Thứ Sáu, 20 tháng 12, 2013

BÊN TƯỢNG LỄ NGHI HỌC SỸ NGUYỄN THỊ LỘ
Hôm nay tại xã Đại Lai, huyện Gia Bình, Bắc Ninh, chúng tôi về dự lễ khánh thành giai đoạn 1 đền thờ Nguyễn Trãi - NguyễN Thị Lộ. Nơi đây Ngày 27 tháng 7 (âm lịch) năm Nhâm Tuất (1442), vua Lê Thái Tông đi tuần ở miền Đông, duyệt quân ở thành Chí Linh, Hải Dương. Nguyễn Trãi đón vua ngự ở chùa Côn Sơn, nơi ở của Nguyễn Trãi. Ngày 4 tháng 8 (âm lịch) vua về đến Lệ Chi Viên thuộc huyện Gia Định (nay thuộc thôn Đại Lai, xã Đại Lai, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh). Cùng đi với vua có Nguyễn Thị Lộ, một người thiếp của Nguyễn Trãi khi ấy đã vào tuổi 40[1] được vua Lê Thái Tông yêu quý vì sự xinh đẹp, có tài văn chương, luôn được vào hầu bên cạnh vua. Khi về đến Lệ Chi Viên, vua thức suốt đêm với Nguyễn Thị Lộ[2][3] rồi băng hà, lúc này ông mới 20 tuổi[3]. Các quan bí mật đưa về, ngày 6 tháng 8 (âm lịch) mới đến kinh sư, nửa đêm vào đến cung mới phát tang. Triều đình đã quy cho Nguyễn Thị Lộ tội giết vua. Nguyễn Trãi và gia đình bị án tru di tam tộc và bị giết ngày 16 tháng 8 (âm lịch) năm này[2]. Đến tháng 7 (âm lịch) năm Giáp Thân (1464), vua Lê Thánh Tông đã rửa oan cho Nguyễn Trãi, truy tặng ông tước Tán Trù bá và bổ dụng người con còn sống sót của ông là Nguyễn Anh Vũ[4].
Ảnh: Ông Đức Rùa, TS Nguyễn Quang A, GS Chu Hảo, nhà văn Hoàng MINH Tường và Lão Trần

Thứ Năm, 19 tháng 12, 2013

MỜI RƯỢU

Thời gian cứ trôi, như dòng sông vẫn chảy
đời có đôi khi điệu buồn dâng lên cao vút
trời đất bao la,xe cộ dập dìu
đường chiều chân mỏi bước chênh vênh
biết tìm đâu người đồng điệu
thục nữ má đào chiều thu vắng bóng
bè bạn tri âm bốn trời phiêu lãng
tình vẫn còn đây mà người đã nơi đâu...?
hỏi sao lòng ta không thê thiết!

Ta cất lên khúc nhạc buồn giữa trời đất mênh mang
bay qua bốn bề mưa gió
"Vọng mỹ nhân hề! Thiên nhất phương"
giai nhân ơi! giờ ở phương nào về đây hội ngộ

Rượu hồng đào, rượu nếp, rượu vang...
tất cả đều có sẵn đợi nhau nâng chén tương phùng                                                                                            tri kỷ giang hồ tạm dừng gót phiêu linh về đây hội tụ

ngâm câu thơ, trỗi khúc nhạc
trải tiếng tơ lòng chứa chan ly hợp
rót rượu ra, rót rượu ra...
cùng nhau hòa điệu khúc ca...

Thứ Tư, 11 tháng 12, 2013

MỜI RƯỢU

Thời gian cứ trôi, như dòng sông vẫn chảy
đời có đôi khi điệu buồn dâng lên cao vút
trời đất bao la,xe cộ dập dìu
chân bước mỏi chênh vênh
biết tìm đâu người đồng điệu
thục nữ má đào chiều thu vắng bóng
bè bạn tri âm bốn trời phiêu lãng
tình vẫn còn đây mà người đã nơi đâu...?
hỏi sao lòng ta không thê thiết!

Ta cất lên khúc nhạc buồn giữa trời đất mênh mang
bay qua bốn bề mưa gió
"Vọng mỹ nhân hề! Thiên nhất phương"
giai nhân ơi! giờ ở phương nào về đây hội ngộ

Rượu hồng đào, rượu nếp, rượu vang...
tất cả đều có sẵn đợi nhau nâng chén tương phùng                                                                                            tri kỷ giang hồ tạm dừng gót phiêu linh về đây hội tụ

ngâm câu thơ, trỗi khúc nhạc
trải tiếng tơ lòng chứa chan ly hợp
rót rượu ra, rót rượu ra...
cùng nhau hòa điệu khúc ca...

Thứ Hai, 9 tháng 12, 2013

KHI XA ĐÀ LẠT


Em ơi! đến lúc phải lên đường
giã từ ngàn hoa phố núi
Thác Prenn,Suối Vàng,Thung lũng tình yêu...
Pensée,Mimosa,Tulip...hẹn mùa sau
Hồ Xuân Hương sóng gợn u hoài
chứa chan lệ thời gian trầm tích
Đồi Cù trơ vơ cỏ khóc ngàn thông
có những con đường vàng hanh nắng lụa
bình minh lên lóng lánh sương gieo
có những con đường chất ngất bão giông
gió mưa che phủ đường về
Ta phải đi như dòng sông vẫn chảy
những con đường ngày mới mở ra
Hiệp An, Đa Ròn, Thanh Mỹ...
Hồ Đơn Dương bạc lòng trăng nước gọi Đa Nhim
rừng thông,rừng thông nối nhau ngút ngàn đưa tiễn
phong lan tím buồn lặng lẽ nhìn theo
em ơi! quốc lộ 27 là đây
chật hẹp, gập ghềnh, rách nát
hắt hiu chập chùng hiểm trở
bên này đá dựng chênh vênh
bên kia vực sâu hun hút
lũng thấp ngàn mây
mưa tự ngàn xưa bao phủ bầu trời
dạt dào trút lên chiếc xe còm cõi
nhọc nhằn lầm lũi trườn lên
em nép vào anh
nỗi sợ là hơi ấm của ngọn lửa con tim
từ một kiếp nào réo gọi nhau
hẹn giờ hòa nhịp
như người nghệ sỹ lấy thăng bằng
bước đi trên sợi dây
nối hai bờ sinh tử
cứu chuộc đọa đày
và ta đã đi
đã đi qua phía bên kia ngọn đèo Ngoạn Mục
trời dứt cơn mê
Tân Sơn đón chào hạnh phúc
Tháp Chàm xưa ngóng đợi ta về
về với quê nghèo Gò Nổi-Điện Phong
có sông Thu muôn đời réo gọi
người ra đi xây mộng bên trời...
hay một nơi nào vô định
có tên thị trấn Liên Hương
có món bún riêu ăn với lá đinh lăng vi vút
và cốc rượu nho ân sũng đời đời
nỗi ngậm ngùi khô hạt lệ rơi
Mảnh đời tả tơi sẽ hàn gắn lại
trong giấc ngủ phiêu linh bát ngát
bên cầu nhân thế nắm lấy tay nhau
ta hát vang bài ca chân trời hy vọng
vườn nhân sinh nở cánh thăng hoa.

Chủ Nhật, 24 tháng 11, 2013

Thứ Bảy, 23 tháng 11, 2013

Đáp Tạ
*Tặng HN

Thương tôi, em đến thăm nhà
Và mang theo rất nhiều quà cho tôi
Hoa hồng và cả mưa rơi
Ân tình và cả những lời yêu thương
Ấm nồng gác lạnh đêm sương
Em cho tôi một làn Hương trong hồn
Dẫu không chia một chữ đồng
Vẫn yêu em với tấm lòng tri âm.


RU EM TẰm HỠI NHẢ TƠ
*Tặng HN

À ơi...
Ru em, em ngủ cho ngoan
Cho anh chân bước nhẹ nhàng trong thơ
Ru em, tằm hỡi nhả tơ
Cho em dệt lụa bên bờ phù vân

Anh đi trong cuộc phong trần
Chút tình vương vấn nợ nần cùng thơ
Ru em về ngõ nguyên sơ
Có anh đứng đợi bên bờ yêu thương

Ru em đêm lạnh canh sương
Vì anh, còn bước trên đường phiêu du
Vầng trăng sơ nguyệt cuối thu
Mênh mang soi bóng dặm mù em qua

Ru em bao nỗi xót xa
Vùi theo dĩ vãng để mà thương nhau
Ru em tóc đã phai màu
Thôi em hãy ngủ...gối đầu tay anh...
À ơi...à ơi...à ơi...
16-11-2013


 NHÀ TÔI

Nhà tôi tuy chẳng mấy đẹp xinh
Nhưng rất bao la một chữ tình
Tình bạn Tình yêu Tình tri kỷ
Chung niềm thương cảm cái nhân sinh

Nếu ai phiêu bạt bước vào đây
Xin được hân hoan rót chén đầy
Gói cuộc trăm năm ngồi nhấm nháp
Để cùng hoan hỷ ngó nhau say...


 CHẠY
Mặt trời đã lên cao
Cho xin gởi lời chào
Cõi trần gian tươi đẹp
Tôi yêu nhiều biết bao!

Âm vang lời réo gọi
Bây giờ tôi phải đi
Chạy theo những tia nắng
Tìm em buổi xuân thì...

Thứ Tư, 6 tháng 11, 2013

Ly Tao

Thiên Ly Tao (nghĩa là buồn li biệt) là bài thơ dài đầu tiên của Trung Quốc: trên 370 câu gồm 2490 chữ.
Đầu tiên, Khuất Nguyên kể dòng dõi, thân thế của mình, công phu cầu học và tu đức ra sao, lòng trung quân ái quốc ra sao, Sở Hoài Vương vì nghe lời dèm pha của tiểu nhân mà ghét bỏ ông, ông sinh ra thất vọng, tưởng tượng như gặp vua Trùng Hoa (vua Thuấn) mà bày tỏ nỗi lòng. Ông ôn lại sự tích của vua Vũ, vua Khang, vua Kiệt, vua Trụ… (thời nào có minh quân và hiền thần thì nước trị, thời nào gặp bạo quân và nịnh thần thì loạn) như có ý để răn vua Sở.
Đoạn giữa, tức là đoạn trích dẫn ở đây, ông tưởng tượng đi từ đất Thương Ngô (nơi có mộ vua Thuấn), tới Huyền Phố, Hàm Trì, Phù Tang và bay tuốt lên thiên đình, nhờ sự giúp đỡ của những thần Hi Hòa, Vọng Thư, Phi Liêm, Lôi Sư, … Nhưng tới cửa thiên đình, thần giữ cửa không cho ông vô; ông lại bay tới Bạch Thủy, Lãng Phong, Xuân Cung, Cùng Thạch, Vị Bàn, yêu cầu Mật Phi thần nữ và hai hiền nữ họ Diêu, kết quả cũng bị cự tuyệt.
Đoạn cuối: không biết đi đâu nữa, ông lại hỏi ý kiến Linh Phân và Vu Hàm (các thần bói); hai vị thần này khuyên ông cứ tiếp tục đi nữa, ông lại đi khắp các nơi như Côn Lôn, Thiên Tân, Lưu Sa, Xích Thủy … mong tìm được chút an ổn trong lòng; nhưng khi về gần tới cố hương thì người đánh ngựa buồn rầu, rỏ lệ, chính con ngựa của ông cũng bịn rịn quay đầu lại nhìn nơi quê cũ, không chịu đi nữa, và ông than thở: "Trong nước đã không có người biết ta hề, thì còn nhớ tiếc gì cố đô! Đã không được vua dùng để thi hành chính trị tốt hề, thì ta nên đi theo Bành Hàm thôi". Bành Hàm là một hiền sĩ đời Ân, can vua mà vua không nghe mới ôm đá mà tự trầm. Vậy là ông đã quyết định tự tử sau khi viết xong thiên Ly Tao.
Cảm xúc của ông cực mạnh; bỗng vui rồi bỗng buồn, lúc chán nản muốn đi xa, lúc lại muốn gặp Thượng Đế, rồi tự nhiên nghĩ đến tình luyến ái, rồi lại thất vọng mà hỏi thần Bói; mới bùi ngùi nhớ cố đô đó mà đã có ý tự sát ngay rồi. Tinh thần đau đớn gần như thác loạn, chỉ vì lòng yêu nước của ông rất nồng nhiệt mà nỗi đau xót của ông đã tới cực điểm.
Sức tưởng của ông cũng rất dồi dào: ông nhân cách hóa cây cỏ, vạn vật, ví những cỏ lau, cỏ chỉ với hạng người quân tử, dùng chim trẫm, chim tu hú làm mối mai, lại muốn sai khiến cả thần gió, thần trăng, thần sấm, thần sét. Ngọn bút thực phóng lãng, lợi dụng tất cả các thần thoại của Trung Quốc (nên có nhà đã ví Ly Tao của ông với Divine Comédie của Dante); để diễn tả tất cả nỗi u uất trong hằng chục năm của ông, lưu lại cho muôn thuở một lời nức nở nghẹn ngào, bất tuyệt.
(Nguyễn Hiến Lê, Cổ Văn Trung Quốc, Xuân Thu xuất bản, trang 105-106).

離騷
01. 駟玉虯以乘鷖兮 溘埃風余上征
02. 朝發軔於蒼梧兮 夕余至乎縣圃
03. 欲少留此靈瑣兮 日忽忽其將暮
04. 吾令羲和弭節兮 望崦嵫而勿迫
05. 路曼曼其脩遠兮 吾將上下而求索
06. 飲余馬於咸池兮 摠余轡乎扶桑
07. 折若木以拂日兮 聊逍遙以相羊
08. 前望舒使先驅兮 後飛廉使奔屬
09. 鸞皇爲余先戒兮 雷師告余以未具
10. 吾令鳳凰飛騰兮 又繼之以日夜
11. 飄風屯其相離兮 帥雲霓而來御
12. 紛總總其離合兮 斑陸離其上下
13. 吾令帝閽開關兮 倚閶闔而望予
14. 時曖曖其將罷兮 結幽蘭而延佇
15. 世溷濁而不分兮 好蔽美而嫉妒
16. 朝吾將濟於白水兮 登閬風而紲馬
17. 忽反顧以流涕兮 哀高丘之無女
18. 溘吾遊此春宮兮 折瓊枝以繼佩
19. 及榮華之未落兮 相下女之可詒
20. 吾令豐隆乘雲兮 求宓妃之所在
21. 解佩纕以結言兮 吾令蹇脩以爲理
22. 紛總總其離合兮 忽緯繣其難遷
23. 夕歸次於窮石兮 朝濯髮乎洧盤
24. 保厥美以驕傲兮 日康娛以淫遊
25. 雖信美而無禮兮 來違棄而改求
26. 覽相觀於四極兮 周流乎天余乃下
27. 望瑤臺之偃蹇兮 見有娀之佚女
28. 吾令鴆爲媒兮 鴆告余以不好
29. 雄鳩之鳴逝兮 余猶惡其佻巧
30. 心猶豫而狐疑兮 欲自適而不可
31. 鳳凰既受詒兮 恐高辛之先我
32. 欲遠集而無所適兮 聊浮遊以逍遙
33. 及少康之未家兮 留有虞之二姚
34. 理弱而媒拙兮 恐導言之不固
25. 世溷濁而嫉賢兮 好蔽美而稱惡
36. 閨中既已邃遠兮 哲王又不寤
37. 懷朕情而不發兮 余焉能忍此終古

屈原
Phiên âm: Ly Tao


01. Tứ ngọc cầu dĩ thừa ê hề, khạp ai phong dư thượng chinh
02. Triêu phát nhẫn ư Thương Ngô hề, tịch dư chí hồ Huyền Phố
03. Dục thiểu lưu thử linh tỏa hề, nhật hốt hốt kì tương mộ
04. Ngô linh Hi Hòa nhị tiết hề, vọng Yêm Tư nhi vật bách
05. Lộ man man kì tu viễn hề, ngô tương thượng hạ nhi cầu sách
06. Ẩm dư mã ư Hàm Trì hề, tổng dư bí hồ Phù Tang
07. Chiết Nhược Mộc dĩ phất nhật hề, liêu tiêu diêu dĩ tương dương
08. Tiền Vọng Thư sử tiên khu hề, hậu Phi Liêm sử bôn chúc
09. Loan Hoàng vi dư tiên giới hề, Lôi Sư cáo dư dĩ vị cụ
10. Ngô linh Phượng Hoàng phi đằng hề, hựu kế chi dĩ nhật dạ
11. Phiêu Phong đồn kì tương li hề, suất vân nghê nhi lai ngự
12. Phân tổng tổng kì li hợp hề, ban lục li kì thượng hạ
13. Ngô linh Đế Hôn khai quan hề, ỷ Xương Hạp nhi vọng dư
14. Thì ái ái kì tương bãi hề, kết u lan nhi duyên trữ
15. Thế hỗn trọc nhi bất phân hề, hảo tế mĩ nhi tật đố
16. Triêu ngô tương tể ư Bạch Thủy hề, đăng Lãng Phong nhi tiết mã
17. Hốt phản cố dĩ lưu thế hề, ai cao khâu chi vô nữ
18. Khạp Ngô du thử Xuân Cung hề, chiết quỳnh chi dĩ kế bội
19. Cập vinh hoa chi vị lạc hề, tương hạ nữ chi khả di
20. Ngô linh Phong Long thừa vân hề, cầu Mật Phi chi sở tại
21. Giải bội tương dĩ kết ngôn hề, ngô lệnh Kiển Tu dĩ vi lí
22. Phân tổng tổng kì li hợp hề, hốt vĩ hoạch kì nan thiên
23. Tịch quy thứ ư Cùng Thạch hề, triêu trạc phát hồ Vị Bàn
24. Bảo quyết mĩ dĩ kiêu ngạo hề, nhật khang ngu dĩ dâm du
25. Tuy tín mĩ nhi vô lễ hề, lai vi khí nhi cải cầu
26. Lãm tương quan ư tứ cực hề, chu lưu hồ thiên dư nãi hạ
27. Vọng Dao Đài chi yển kiển hề, kiến Hữu Tùng chi dật nữ
28. Ngô linh Trậm vi môi hề, chậm cáo dư dĩ bất hảo
29. Hùng Cưu chi minh thệ hề, dư do ác kì điêu xảo
30. Tâm do dự nhi hồ nghi hề, dục tự thích nhi bất khả
31. Phượng Hoàng kí thụ di hề, khủng Cao Tân chi tiên ngã
32. Dục viễn tập nhi vô sở thích hề, liêu phù du dĩ tiêu diêu
33. Cập Thiếu Khang chi vị gia hề, lưu Hữu Ngu chi nhị Diêu
34. Lí nhược nhi môi chuyết hề, khủng đạo ngôn chi bất cố
35. Thế hỗn trọc nhi tật hiền hề, hảo tế mĩ nhi xưng ác
36. Khuê trung kí dĩ thúy viễn hề, triết vương hựu bất ngụ
37. Hoài trẫm tình nhi bất phát hề, dư yên năng nhẫn thử chung cổ

Khuất Nguyên
Dịch nghĩa: Ly Tao


01. Ta cưỡi con Ngọc Cầu (1) hoặc con Phượng Hoàng hề, vụt theo trận gió mà lên trời
02. Buổi sáng ta ra đi ở Thương Ngô hề, chiều ta tới Huyền Phố
03. Ta muốn lưu lại một chút ở cung vua (3) hề, nhưng mặt trời đã xuống nhanh và sắp tối
04. Ta xin thần Hi Hòa (4) đi chậm lại hề, hướng về phía núi Yêm Tư (5) và đừng gấp
05 Đường mênh mang và thăm thẳm hề, ta muốn lên xuống mà tìm tòi
06 Cho ngựa ta uống nước ở Hàm Trì hề, buông dây cương qua đất Phù Tang (6)
07 Bẻ cành Nhược Mộc (7) để che mặt trời hề, hãy tiêu dao mà bồi hồi
08. Phía trước thần Vọng Thư phải tiến trước hề, phía sau thần Phi Liêm phải chạy theo (8)
09. Loan Hoàng mở lối đi đầu, thần sấm sét bảo ta thu xếp chưa xong
10. Ta khiến Chim Phượng bay lượn hề, bay ngoài suốt ngày đêm
11. Thần Phiêu Phong tụ họp những đám chia lìa, đốc suất mây và ráng lại đón (9)
12. Li li hợp hợp hề, đủ mọi màu ở trên và dưới
13. Ta truyền Đế Hôn mở cửa, Đế Hôn dựa cửa Xương Hạp (10) mà ngó ta
14. Thời đại này u ám như đã sẩm tối hề, ta kết những bông lan u nhã mà đứng lâu (11)
15. Đời hỗn trọc mà không biết phân biệt hề, thích che cái đẹp của người mà ghen ghét
16. Sáng ta qua sông Bạch Thủy hề, leo núi Lãng Phong mà cột ngựa lại (12)
17. Bỗng nhiên ta quay đầu lại, nước mắt ròng ròng hề, buồn cho núi cao không có gái đẹp (13)
18. Thôi, để ta chơi chốn Xuân Cung (14) này hề, bẻ cành quỳnh để đeo
19. Dung nhan tươi tốt của ta chưa suy hề, ta sẽ lựa người con gái đẹp mà trao tặng (15)
20. Ta sai thần Phong Long cưỡi mây hề, tìm xem thần Mật Phi ở đâu (16)
21. Ta sẽ cởi vật đeo trong người để kết ước hề, ta sai Kiển Tu (17) làm mối
22. Li li hợp hợp lòng rối bời hề, bỗng dọc ngang tâm tư khó định
23. Muốn đêm về núi Cùng Thạch hề, rồi lại muốn buổi sáng gội đầu ở Vị Bàn (18)
24. Nàng cậy đẹp mà kiêu ngạo hề, ngày đêm vui vẻ mà ngao du
25. Tuy đẹp thật nhưng vô lễ hề, phải lìa bỏ nàng mà cầu chỗ khác
26. Xét hết bốn phương hề, đi khắp trời rồi lại xuống đất
27. Nhìn về phía Dao Đài thấy ánh sáng long lanh hề, thấy người con gái đẹp ở đất Hữu Tung (19)
28. Ta sai con chim Trẫm (20) làm mối hề, Trẫm bảo ta là không xong
29. Con chim Tu Hú nhiều lời hề, ta ghét nó điêu ngoa
30. Lòng do dự mà hồ nghi hề, muốn đích thân qua mà ngại vô lễ
31. Phượng Hoàng đã nhận tặng vật hề, chỉ sợ Cao Tân đã định hôn trước với nàng rồi (21)
32. Muốn đi xa mà lại không có chỗ trú chân hề, thôi thì hãy tạm ngao du để tiêu dao
33. Nhớ Thiếu Khang (22) khi chưa thành công hề, họ Hữu Ngu (23) gả cho ông hai nàng họ Diêu
34. Lí đã kém mà người làm mai lại vụng hề, sợ lời dẫn đạo không được đúng
35. Đời hỗn trọc mà ghét người hiền hề, thích che cái tốt mà vạch cái xấu người
36. Nàng ở nơi phòng khuê thăm thẳm hề, mà đức minh quân lại không tỉnh ngộ
37. Ôm nỗi lòng mà không bày tỏ được hề, ta sao chịu được như vầy cho tới hết đời!

Nguyễn Hiến Lê dịch
(Cổ văn Trung quốc, Xuân Thu xuất bản, USA).
Dịch thơ: Ly Tao


01. Quay ra đạp gió rẽ mây,
Cưỡi rồng, dóng phượng định ngày chơi xa.
02. Sớm Thương Ngô, chiều qua Huyền Phố,
03. Đền thần linh xa ngó cửa ngoài.
Chốn mây tạm chốn nghỉ ngơi,
Chiều hôm bảng lảng mặt trời xuống nhanh
04. "Hi Hòa hỡi! nể tình ta với!
05. "Lối non Đoài chớ vội xông pha!
"Quản bao nước thẳm, non xa,
"Để ta tìm kiếm cho ra bạn lòng!"
06. Cho ngựa uống bên dòng Dục Nhật,
07. Buông dây cương qua đất Phù Tang.
Nhởn nhơ chốc lát dọc đường,
Bẻ cành nhược mộc chắn ngang mặt trời!
08. Chị Trăng phải nhanh chân tiến trước,
Dì Gió cho lần bước theo sau,
09. Chim loan mở lối đi đầu,
Nhưng thần sấm sét đốc hầu chưa xong!
10. Ta giục phượng ra công bay mãi,
Suốt ngày đêm dong ruổi cho mau!
11. Cơn dông bão táp theo hầu!
Cầu vồng mống cụt đem nhau đón chào!
12. Khắp các ngả trước sau tấp tới,
Đủ mọi mầu trên dưới tơi bời…
13. Ta truyền mở cửa nhà Trời!
Lính canh lại tựa cửa ngoài nhìn ta!
14. Người mỏi mệt, ngày đà sẩm tối,
Đứng bơ phờ tay với bông lan!
15. Cõi đời nhơ đục muôn vàn,
Ghen tài ghét đẹp thói càn đã quen!
16. Sớm dong ngựa qua miền Bạch Thủy,
Lên Lãng Phong ta sẽ dừng cương,
17. Không ai là gái đảm đang,
Trông về nước Sở gạt hàng lệ rơi!
18. Chơi cung xuân này nơi thanh nhã,
Đeo giắt thêm giắt đóa hoa quỳnh…
19. Hoa tươi còn chửa lìa cành,
Xem ai là gái hữu tình ta đưa.
20. Sai thần mây đi mưa về gió,
Cung Mật Phi tìm rõ tới nơi…
21. Mối manh ta lại cậy người…
Cổi dây đeo để ngỏ lời giao đoan!
22. Trải mấy độ qua ngàn vượt núi,
Bỗng dọc ngang đường lối khó thông…
23. Chiều hôm về nghỉ non Cùng,
Sớm ra gội tóc trên sông Vị Bàn.
24. Nàng cậy đẹp khinh nhờn quen thói,
Quên tháng ngày, mê mải dong chơi.
25. Đẹp nhưng mất nết xin thôi,
Bỏ tìm chốn khác lấy người đoan trang.
26. Vùng trời rộng bốn phương man mác,
Xem khắp rồi lại bước xuống đời,
27. Hữu Tung trông với cõi ngoài,
Long lanh đền ngọc thấy người gái xinh.
28. Mướn chim trẫm mối manh nói hộ,
Trẫm trả lời: "Việc đó xong xuôi!"
29. Kìa chim tu hú dại đời,
Ta còn ghét nó là loài tinh ranh…
30. Mình khuây khỏa lấy mình chẳng nổi,
Lòng hồ nghi trăm mối vấn vương!
31. Chịu lời ta đã phượng hoàng,
Chỉ e ta đến sau chàng Cao Tân…
32. Xa tìm chốn yên thân chẳng có,
Đành lênh đênh đây đó biết sao!
33. Thiếu Khang đang lúc ba đào,
Họ Diêu hai gái sánh vào vừa xinh…
34. Lí đã kém, mối manh lại vụng,
Dẫu hẹn lời, e cũng không bền,
35. Người đời bửn tưởi, nhỏ nhen,
Chuộng bên gian ác, ghét bên hiền tài.
36. Buồng the đã là nơi cách trở,
Nhà vua còn đương cữ mê say!
37. Ôm lòng biết ngỏ ai hay?
Suốt đời nhịn mãi nước này được sao?

Nhượng Tống dịch
(Ly Tao, trang 31-34, Tân Việt, 1944)

Chú thích:
(1) Ngọc Cầu: Theo một số nhà chú thích Sở Từ, thì tên những vật trong bài này đều là những tên thần cả, nên phải viết chữ Hoa. Cầu là con rồng mà không có sừng. Nguyên văn chữ "ê" là con cò, đây trỏ con phượng. Phượng Hoàng là một loài chim mà theo người Trung Hoa chỉ là đời thái bình mới có; con trống là phượng, con mái là hoàng. (2) Thương Ngô: Là nơi chôn của vua Thuấn, nay ở tỉnh Hồ Nam, huyện Linh Lăng. Huyền Phố ở chân núi Côn Lôn. Côn Lôn là mạch núi cao nhất và dài nhất của Trung Hoa nằm theo biên giới phía Tây và phía Bắc. (3) Linh tỏa: Có sách chú thích "linh tỏa" là nước cũ (cố bang). (4) Hi Hòa: Thần Thái Dương. (5) Yêm Tư: Tên núi, nơi mặt trời lặn. (6) Hàm Trì, Phù Tang: Hàm trì là nơi mặt trời lặn ở biển. Phù Tang là tên một nước ở phía Đông. (7) Nhược mộc: Một loại cây lá xanh hoa đỏ (theo Sơn Hải Kinh); cũng trỏ nơi mặt trời lặn. (8) Vọng Thư, Phi Liêm: Vọng Thư là thần mặt trăng. Phi Liêm là thần gió. (9) Phiêu Phong: Thần gió lốc hoặc thần dông tố. (10) Đế Hôn, Xương Hạp: Đế Hôn là thần coi cửa nhà trời. Xương Hạp là cửa nhà trời. (11) Đứng lâu: Ý nói: giữ lòng trong sạch thơm tho như bông lan mà tần ngần, buồn cho nước Sở. (12) Bạch Thủy, Lãng Phong: Bạch Thủy là dòng sông bắt nguồn ở núi Côn Lôn. Lãng Phong là đỉnh dãy núi Côn Lôn. (13) Gái đẹp: Trỏ một quốc gia thịnh vượng, hợp với lòng mình; cũng có thể trỏ một vị minh quân để mình thờ. (14) Xuân Cung: Cung ở trên trời. (15) Trao tặng: Ý nói: còn sức mạnh, còn tài năng để giúp nước; sẽ lựa vua mà thờ. Cũng có sách chú thích là: cành hoa quỳnh còn tươi tốt, chưa tàn, sẽ lựa người con gái đẹp mà tặng: nghĩa cũng không khác mấy, vì bông quỳnh cũng có thể tượng trưng tài đức của tác giả. (16) Phong Long, Mật Phi: Phong Long là thần mưa; cũng có sách cho là thần gió. Mật Phi là con gái vua Phục Hi, chết đuối ở sông Lạc, rồi thành nữ thần. Phục Hi là một đời vua hoang đường trong thời chưa có sử. (17) Kiển Tu: Bây tôi của thần Hi Hòa (theo Vương Dật); có sách lại bảo là thần sông Lạc. (18) Cùng Thạch, Vị Bàn: Cùng Thạch là tên núi. Vị Bàn là tên sông. (19) Dao Đài, Hữu Tung: Dao Đài là nơi thần tiên ở. Hữu Tung là tên nước. (20) Trẫm: Một loài chim mà cánh dùng làm thuốc độc. (21) Cao Tân: Vua Đế Khốc. Có sách chú thích là: chỉ sợ Cao Tân đã đính hôn với nàng rồi. (22) Thiếu Khang: Một vua của thời trung hưng của nhà Hạ. (23) Hữu Ngu: Quốc hiệu của vua Thuấn.
TOP

Thứ Năm, 31 tháng 10, 2013

   ĐÊM SÔNG THU TIỄN BẠN
                                                                                











Nào uống đi, cạn chén chia phôi
Đêm sắp hết, ngày không còn lâu nữa
Cuộc chia xa mỗi trời một đứa
Ta ở đây, ngươi đi đến quê người!

Thôi uống đi, để môi ấm nụ cười
Dành thương xót cho niềm đau lặng lẽ...
Rượu không cay, mà lòng cay như xé
Bước chập chờn như một kẻ mộng du!

Đêm nay về quạnh quẽ bến sông Thu
Ngàn sao lạnh chợt cùng ta thao thức
Nghĩ mai đây phương trời xa khuất
Nhớ đến nhau, chén rượu chắc ngậm ngùi!

Nên đêm này ta rót lệ tặng ngươi
Giọt lệ đá tưởng chừng không vỡ được
Tạc lòng nhau chút tình buổi trước
Lắng trong hồn còn đọng buổi mai sau

Thôi ngươi đi đừng để nỗi xót đau
Bởi thấy được sẽ mềm lòng ta nữa
Nước sông Dịch (*) ngàn năm không hứa
Nhưng sông Thu nhớ buổi hẹn về

Với tấm lòng nhớ bạn thương quê
Ta sẽ hát bên sông mà chờ đợi
Cùng bè bạn đọc vần thơ mới
Rươu trăm năm lại uống chén tương phùng

Giờ ngươi đi, ta biết nói sao cùng ?!


(*) Sông Dịch Thuỷ (Trung Quốc): tráng sĩ Kinh Kha
đi qua sông này để thích khách Tần Thuỷ Hoàng nhưng
không quay trở lại.

Thứ Hai, 12 tháng 8, 2013

LỊCH SỬ QUẢNG NAM (Phần 2)

Category: TỰ HÀO ĐẤT QUẢNG, Tag: Khác,Lối sống,QUẢNG NAM
10/19/2010 04:27 pm
QUẢNG NAM

Quảng Nam là một tỉnh thuộc vùng Duyên Hải Nam Trung Bộ, Việt Nam, là vùng đất còn lưu giữ nhiều dấu tích của nền Văn hóa Chămpa. Tên gọi Quảng Nam có nghĩa là "mở rộng về phương Nam". Quảng Nam còn được biết đến là vùng đất "Địa Linh Nhân Kiệt", Ngũ Phụng Tề Phi nơi đã sinh ra nhiều hiền tài cho đất nước. Quảng Nam còn nổi tiếng là địa phương đi đầu trong kháng chiến chống giặc ngoại xâm

Vị trí địa lý
Quảng Nam là một tỉnh ven biển thuộc vùng Nam Trung Bộ Việt Nam có tọa độ địa lý khoảng 108026’16” đến 108044’04” độ kinh đông và từ 15023’38” đến 15038’43” độ vĩ bắc. Phía bắc giáp thành phố Đà Nẵng và tỉnhThừa Thiên-Huế, phía nam giáp tỉnh Quảng Ngãi và tỉnh Kon Tum, phía đông giáp biển Đông, phía tây giáp tỉnh Sêkoong của nước CHDCND Lào. Trung tâm hành chính của tỉnh là thành phố Tam Kỳ. Quảng Nam nổi tiếng với hai di sản văn hóa thế giới  Hội An  Mỹ Sơn.

Hành chính

Theo kết quả điều tra ngày 01/04/2009 dân số tỉnh Quảng Nam là 1.419.503 người. Quảng Nam hiện có 18 đơn vị hành chính cấp huyện bao gồm 2 thành phố và 16 huyện:

Nguồn: Sở Nội Vụ Quảng Nam, 2007

Lịch sử

Trước kia Quảng Nam là đất Chiêm Thành, năm 1306 theo thỏa ước giữa vua Chiêm Thành là Chế Mân và vua Đại Việt là Trần Nhân Tông, vua Chế Mân dâng hai châu Ô tức Thuận Châu (bắc Hải Vân) và châu Rí tức Hóa Châu (Nam Hải Vân) làm sính lễ cưới con gái vua Trần Nhân Tông là công chúa Huyền Trân. Người Việt dần định cư tại hai vùng đất mới, người Chiêm Thành lùi dần về vùng đất còn lại phía Nam của vương quốc.
Năm 1402, nhà Hồ thay thế nhà Trần. Nhà Hồ chia Hóa Châu thành 4 châu nhỏ hơn là Thăng Châu, Hóa Châu, Tư Châu và Nghĩa Châu và đặt An Phủ Sứ cai trị [2].
Năm 1471, sau khi chiếm vùng đất phía Nam Thuận Hóa cho đến đèo Cù Mông, vua Lê Thánh Tông lập thêm đơn vị hành chính thứ 13 - Thừa Tuyên Quảng Nam gồm 3 phủ: Thăng Hoa, Tư Nghĩa và Hoài Nhơn (nay là Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định). Danh xưng Quảng Nam xuất hiện từ đây.
Cư dân Quảng Nam là sự cộng cư trong suốt quá trình mở nước. Người Việt (Kinh) có mặt ở Quảng Nam trước năm 1471, cùng với người Chăm pa, người Hoa. Ngày nay, ở Quảng Nam, ngoài người Việt thuần gốc, người Hoa, còn có người Việt (Kinh) có nguồn gốc tổ tiên lâu đời là người Trung Quốc (người Minh Hương).
Theo dòng lịch sử, Quảng Nam từng là đất đóng đô của một vương quốc cổ có thời gian tồn tại 15 thế kỷ. Dưới triều Lê Thánh Tông (năm 1471), Quảng Nam trở thành một bộ phận của Đại Việt và trong thời điểm Trịnh-Nguyễn phân tranh, Quảng Nam thuộc quyền cai quản của chúa Nguyễn (từ năm 1570). Hội An được chọn là điểm giao thương duy nhất với thế giới khi đó nên nhiều thương gia nước ngoài hay gọi Quảng Nam Quốc. Bằng lao động sáng tạo, Quảng Nam đã góp phần vào tiến trình mở nước của dân tộc và tạo lập cuộc sống phồn vinh của một vùng - xứ Quảng. Biên niên sử thời Nguyễn đã chép về giai đoạn này như sau: “Chúa ở trấn hơn 10 năm, (chúa Tiên Nguyễn Hoàng) chính sự rộng rãi, quân lệnh nghiêm trang, nhân dân đều an cư lạc nghiệp, chợ không hai giá, không có trộm cướp. Thuyền buôn các nước đến nhiều. Trấn trở nên một đô hội lớn”.
Đến giữa thế kỷ XVII, chính quyền đàng Trong nhanh chóng suy yếu, nạn chiếm đoạt và tập trung ruộng đất diễn ra gay gắt, thuế khóa ngày càng tăng… Quan lại lợi dụng hành hạ, ẩu lậu, cố tình tăng giảm, sinh sự làm khổ dân. Trước hoàn cảnh đó, khi phong trào Tây Sơn bùng nổ, nhân dân Quảng Nam đã hưởng ứng mạnh mẽ. Mùa thu năm 1773, khi quân Tây Sơn kéo ra Quảng Nam, nhân dân Quảng Nam đã phối hợp cùng nghĩa quân phục kích ở Bến Đá (Thạch Tân, Thăng Bình, Quảng Nam) đánh bại quân của chúa Nguyễn do các tướng Nguyễn Cửu Thống, Nguyễn Hữu Sách… chỉ huy. Chiến thắng của phong trào Tây Sơn trong sự nghiệp đánh đổ tập đoàn phong kiến Trịnh-Nguyễn, mở đầu sự nghiệp thống nhất đất nước có phần đóng góp rất lớn của nhân dân Quảng Nam.
Năm 1806 vua Gia Long thống nhất đất nước. Về hành chính, vua chia đất nước thành 23 trấn và 4 doanh thuộc đất kinh kỳ gồm Trực Lệ-Quảng Đức, Quảng Bình, Quảng Trị và Quảng Nam doanh [3].
Năm 1831, vua Minh Mạng đổi trấn và doanh thành tỉnh. Quảng Nam chính thức trở thành tỉnh từ năm này. Tỉnh Quảng Nam được chia thành 8 phủ, huyện gồm Hòa Vang, Đại Lộc, Duy Xuyên, Điện Bàn, Quế Sơn, Thăng Bình, Tam Kỳ, và Tiên Phước.
Năm 1888, dưới thời vua Thành Thái Đà Nẵng thị tách khỏi Quảng Nam để trở thành đất nhượng địa của thực dân Pháp.
Sau Hiệp định Gonèvo, dưới thời chế độ Việt Nam Cộng Hòa tỉnh Quảng Nam (1956) bị chia thành hai tỉnh mới là Quảng Nam ở phía Bắc gồm các quận Hòa Vang, Đại Lộc, Điện Bàn, Duy Xuyên, Đức Dục, Hiếu Nhơn, Quế Sơn, Hiếu Đức, và Thường Tín vàQuảng Tín ở phía Nam gồm Thăng Bình, Tiên Phước, Hậu Đức, Lý Tín, Hiệp Đức và Tam Kỳ.
Sau khi thống nhất đất nước, chính phủ nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam quyết định sáp nhập hai tỉnh Quảng Nam, Quảng Tín và Thành phố Đà Nẵng thành lập tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng với Đà Nẵng là tỉnh lị. Tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng gồm Thành phố Đà Nẵng và các huyện Hoà Vang, Ðiện Bàn, Duy Xuyên, Thăng Bình, Tam Kỳ, Ðại Lộc, Quế Sơn, Tiên Phước, Tiên Giang, Phước Sơn, Trà My.
Năm 1997, tại kỳ họp thứ X của Quốc Hội, tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng được chia thành hai đơn vị thành chính độc lập gồm Thành phố Đà Nẵng và tỉnh Quảng Nam. Tỉnh Quảng Nam mới có 14 huyện gồm Giằng (nay là huyện Nam Giang), Hiên (nay là Đông Giang  Tây Giang), Đại Lộc, Phước Sơn, Duy Xuyên, Điện Bàn, Quế Sơn (nay là Quế Sơn  Nông Sơn), Thăng Bình, Hiệp Đức, Tiên Phước, Trà My (nay là Bắc Trà My  Nam Trà My, Núi Thành và 2 thị xã: thị xã Tam Kỳ (nay là thành phố tỉnh lị Tam Kỳ và huyện Phú Ninh) và thị xã Hội An (nay là thành phố Hội An)

Điều kiện tự nhiên

Địa hình

Quảng Nam có hướng địa hình nghiên dần từ Tây sang Đông hình thành 3 kiểu cảnh quan sinh thái rõ rệt là kiểu núi cao phía Tây, kiểu trung du ở giữa và dải đồng bằng ven biển. Vùng đồi núi chiếm 72% diện tích tự nhiên với nhiều ngọn cao trên 2.000m như núi Lum Heo cao 2.045m, núi Tion cao 2.032m, núi Gole - Lang cao 1.855m (huyện Phước Sơn)[4]. Núi Ngọc Linh cao 2.598m nằm giữa ranh giới Quảng Nam, Kon Tum là đỉnh núi cao nhất của dãy Trường Sơn [5] Ngoài ra, vùng ven biển phía đông sông Trường Giang là dài cồn cát chạy dài từ Điện Nam, Điện Bàn đến Tam Quan, Núi Thành. Bề mặt địa hình bị chia cắt bởi hệ thống sông ngoài khá phát triển gồm sông Thu Bồn, sông Tam Kỳ và sông Trường Giang.

Khí hậu

Quảng Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, chỉ có 2 mùa là mùa mưa và mùa khô, chịu ảnh hưởng của mùa đông lạnh miền Bắc. Nhiệt độ trung bình năm 25,4oC, Mùa đông nhiệt độ vùng đồng bằng có thể xuống dưới 20oC. Độ ẩm trung bình trong không khí đạt 84% [6]. Lượng mưa trung bình 2000-2500mm, nhưng phấn bố không đều theo thời gian và không gian, mưa ở miền núi nhiều hơn đồng bằng, mưa tập trung vào các tháng 9 - 12, chiếm 80% lượng mưa cả năm; mùa mưa trùng với mùa bão, nên các cơn bão đổ vào miền Trung thường gây ra lở đất, lũ quét ở các huyện trung du miền núi và gây ngập lũ ở các vùng ven sông.

[sa] Sông ngòi

Do nằm trong vùng có lượng mưa lớn, hệ thống sông ngòi trong tỉnh khá phát triển. Hệ thống sông Thu Bồn là một trong những hệ thống sông lớn của Việt Nam với tổng diện tích lưu vực khoảng 9.000 km2. Sông Tam Kỳ với diện tích lưu vực 800 km2 là sông lớn thứ hai. Ngoài ra còn có các sông có diện tích nhỏ hơn như sông Cu Đê 400km2, Tuý Loan 300 km2, LiLi 280 km2 ...,
Các sông có lưu lượng dòng chảy lớn, đầy nước quanh năm. lưu lượng dòng chảy sông Vu Gia 400m3/s, Thu Bồn 200m3/s có giá trị thủy điện, giao thông và thủy nông lớn. Hiện tại trên hệ thống sông Thu Bồn, nhiều nhà máy thủy điện công suất lớn như Sông Tranh I, Sông Tranh II, Sông AVương, Sông Bung... đang được xây dựng góp phần cung cấp điện cho nhu cầu ngày càng tăng của cả nước.

Tài nguyên thiên nhiên

Tài nguyên đất

Tổng diện tích tự nhiên của Quảng Nam là 1.040.683ha được hình thành từ chín loại đất khác nhau gồm cồn cát và đất cát ven biển, đất phù sa sông, đất phù sa biển, đất xám bạc màu, đất đỏ vàng, đất thung lũng, đất bạc màu xói mòn trơ sỏi đá,... Nhóm đất phù sa ven sông là nhóm đất quan trọng nhất trong phát triển cây lương thực, thực phẩm và cây công nghiệp ngắn ngày. Nhóm đất đỏ vàng vùng đồi núi thuận lợi cho trồng rừng, cây công nghiệp và cây ăn quả dài ngày. Nhóm đất cát ven biển đang được khai thác cho mục đích nuôi trồng thủy sản.
Trong tổng diện tích 1.040.683ha, diện tích đất lâm nghiệp chiếm tỷ lệ lớn nhất (49,4%), kế tiếp là đất dành cho sản xuất nông nghiệp, đất thổ cư và đất chuyên dùng. Diện tích đất trống đồi trọc, đất cát ven biển chưa được sử dụng còn chiếm diện tích lớn.
Nguồn: Sở Khoa học công nghệ Quảng Nam, 2006

Tài nguyên rừng

Tỉnh Quảng Nam có 425.921 ha rừng, tỷ lệ che phủ đạt 40,9%; trữ lượng gỗ của tỉnh khoảng 30 triệu m3. Diện tích rừng tự nhiên là 388.803 ha, rừng trồng là 37.118 ha. Rừng giàu ở Quảng Nam hiện có có khoảng 10 nghìn ha, phân bố ở các đỉnh núi cao, diện tích rừng còn lại chủ yếu là rừng nghèo, rừng trung bình và rừng tái sinh, có trữ lượng gỗ khoảng 69 m3/ha. Các khu bảo tồn thiên nhiên trên địa bàn tỉnh nằm ở sông Thanh thuộc huyện Nam Giang.
Dân số
  • Dân số: gần 1.419.503 người [8]
  • Các dân tộc: Việt (Kinh), Hoa, Cơ Tu, Xê Đăng, Giẻ Triêng, Cor

Văn hóa - Xã hội

Lễ hội

  • Lễ hội Bà Thu Bồn là một lễ hội dân gian của cư dân ven sông Thu Bồn, tỉnh Quảng Nam với mục đích cầu nguyện một năm mới đất trời thuận hòa, người dân ấm no hạnh phúc. Lễ hội được tổ chức hằng năm vào ngày 12 tháng 2 âm lịch [9]. Xen lẫn các tiết mục văn nghệ dân gian là tiếng hò reo cổ vũ của cư người xem hội hai bên bờ. Nghi thức quan trọng nhất là lễ tế Bà và lễ rước nước về đền. Đền thờ Bà Thu Bồn nằm trong một vùng đồng bằng ven sông thuộc huyện Duy Xuyên. Phần hội quan trọng nhất là hội đua thuyền Lệ Bà (Nam-Nữ), hội thả hoa đăng và đốt lửa thiêng trên những bãi bồi của dòng Thu Bồn.
  • Lễ Hội Bà Chiêm Sơn là lễ hội của cư dân làm nghề nuôi tằm dệt vải của xã DUY TRINH, huyện Duy Xuyên. Lễ được tổ chức ngày 10-12 tháng Giêng âm lịch tại Dinh bà Chiêm Sơn [10]. Lễ hội là dịp bày tỏ niềm tôn kính với người đã khai sinh ra nghề ươm tằm dệt lụa cho địa phương. Người tham gia lễ hội có cơ hội thưởng thức các món ăn đặc trưng của người Quảng Nam. Lễ hội còn là dịp để tham gia các trò chơi dân gian như đá gà, ném bóng vào rổ, hát bài chòi [11].
  • Carneval Hội An là lễ hội đường phố được tổ chức lần đầu tiên tại thành phố Hội An vào Giao thừa năm 2009 (dương lịch). Lễ hội mô phỏng theo các lễ hội Carneval đường phố vốn rất nổi tiếng tại các nước Châu Âu và Mỹ Latin [12]
  • Lễ hội Rước cộ Bà Chợ Được được tổ chức hằng năm vào ngày 11 tháng Giêng (âm lịch) tại xã Bình Triều, huyện Thăng Bình. Đây là một kiểu lễ hội tâm linh để tỏ lòng tôn kính với bà Nguyễn Thị Của. Theo tài liệu "Thần Nữ Linh Ứng Truyện", bà sinh năm 1799 tại huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam. Bà mất năm 1817, hưởng dương 18 tuổi. Theo cư dân địa phương, bà rất linh thiêng. Trong một lần ngao du đến làng Phước Ấm (nay là Chợ Được, xã Bình Triều), thấy cảnh sông nước hữu tình, bà chọn nơi này họp chợ để giúp cư dân có cuộc sống sung túc hơn. Bà hóa thân thành một thiếu nữ xinh đẹp chừng 18 tuổi làm nghề bán nước đổi trầu. Dần dần cư dân xung quanh tập trung buôn bán, Chợ Được được hình thành và phát triển. Để ghi nhớ công ơn bà, cư dân trong vùng lập đền thờ "Lăng Bà" và được triều đình phong tặng sắc phong "Thần Nữ Linh Ứng-Nguyễn Thị Đẳng Thần" [13].
  • Lễ Hội Nguyên Tiêu là lễ hội của Hoa Kiều tại Hội An. Lễ được tổ chức tại Hội Quán Triều Châu và Quảng Triệu vào ngày 16 tháng Giêng (âm lịch) hằng năm [14]
  • Lễ Hội Đêm Rằm Phố Cổ được tổ chức vào ngày 14 âm lịch hằng tháng tại đô thị cổ Hội An. Tại thời điểm đó, cư dân trong thành phố sẽ tắt hết điện chiếu sáng, thay vào đó là ánh sáng rực rỡ từ đèn lồng. Thành phố sống trong không gian tĩnh mịch của quá khứ. Các phương tiện có động cơ không được tham gia lưu thông. Đường phố được dành cho người đi bộ thưởng lãm.

Danh nhân


Giáo dục

Đại Học

  • Cao Đẳng Điện Lực Miền Trung
  • Cao Đẳng Kinh Tế, Thủy Lợi.
  • Đại học Quảng Nam
  • Đại học dân lập Phan Chu Trinh
  • Trường Cao Đẳng Y Tế Quảng Nam
  • Trường CĐ Kinh tế Kỹ thuật Quảng Nam
  • Trường CĐ Công kỹ nghệ Đông Á
  • Trường CĐ Tư thục Phương Đông - Quảng Nam

Phổ Thông Trung Học

Tính đến đầu năm 2010, tỉnh Quảng Nam có 46 trường Trung Học Phổ thông (THPT)

Kinh tế

Công nghiệp

Bên cạnh khu kinh tế mở Chu Lai, tỉnh Quảng Nam còn có các khu công nghiệp sau:
  • Khu công nghiệp Điện Nam - Điện Ngọc
  • Khu công nghiệp Thuận Yên
  • Khu công nghiệp Trảng Nhật
  • Khu công nghiệp Đại Hiệp
  • Khu công nghiệp Đông Quế Sơn
  • Khu công nghiệp Đông Thăng Bình
  • Khu công nghiệp Tây An
  • Khu công nghiệp Bắc Chu Lai
  • Khu công nghiệp Nông Sơn

Du lịch

  • Cù lao Chàm
  • Biển Cửa Đại
  • Khu du lịch sinh thái Phú Ninh
  • Khu du lịch sinh thái Thuận Tình (Hội An)
  • Suối nước nóng Tây Viên (Nông Sơn)
  • Suối Tiên (Quế Sơn) [16]
  • Hòn Kẽm Đá Dừng (Hiệp Đức)
  • Tháp Khương Mỹ
  • Nhà lưu niệm Nguyễn Thị Kim Oanh
  • Biển du lịch: Tam Thanh (TP Tam Kỳ}
  • Biển Rạng (huyện Núi Thành)
  • Biển Bàn Than (huyện Núi Thành)
  • Hố Giang Thơm (Núi Thành)

Di tích lịch sử

Làng nghề truyền thống

Ẩm thực

Các món ăn đặc sắc:
  • Mì Quảng Phú Chiêm (Điện Phương, Điện Bàn)
  • Cao lầu (thành phố Hội An)
  • Xí Mà (thành phố Hội An)
  • Bê thui Cầu Mống (xã Điện Phương, huyện Điện Bàn)
  • Bánh tráng cuốn thịt heo
  • Bánh tráng Gia Cốc (xã Đại Minh, huyện Đại Lộc)
  • Khoai lang Trà Đóa (xã Bình Đào, huyện Thăng Bình): "Quảng Nam có lụa Điện Hồng, Khoai lang Trà Đóa có dòng sông Thu"

Giao thông

Đường sắt

Trục đường sắt Bắc Nam đi qua tỉnh Quảng Nam. Ngoài nhà ga chính ở Tam Kỳ, còn có ga Nông Sơn.ga Phú Cang(Bình Quý_ Thăng Bình), ga núi thành (núi thành ), ga trà kiệu ( duy xuyên)...

Đường bộ

Quốc lộ 1 A đi qua địa phận tỉnh Quảng Nam.

Đường hàng không

Năm 1965, người Mỹ xây dựng sân bay Chu Lai, nhằm mục đích phụ vụ các hoạt động quân sự ở miền Trung và Tây Nguyên. 40 năm sau, ngày 02 tháng 3 năm 2005, sân bay Chu Lai đón chuyến bay thương mại đầu tiên từ thành phố Hồ Chí Minh, đánh dấu một sự kiện lịch sử của tỉnh. Năm 2010, Vietnam Airlines có tuyến bay Chu Lai - Hà Nội. Việc sân bay Chu Lai vào hoạt động thương mại sẽ thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển không chỉ của Quảng Nam (với khu công nghiệp Chu Lai) mà còn của tỉnh Quảng Ngãi (với khu công nghiệp Dung Quất). Xa hơn nữa, sân bay Chu Lai sẽ được phát triển thành sân bay quốc tế phục vụ cho việc trung chuyển hành khách và hàng hóa trong khu vực. Ngoài ra, việc đưa sân bay Chu Lai vào hoạt động sẽ giúp cho du khách đến với hai di sản văn hóa thế giới Hội An  Mỹ Sơn dễ dàng hơn.

Thứ Ba, 16 tháng 7, 2013

LỊCH SỬ QUẢNG NAM

LỊCH SỬ QUẢNG NAM (Phần 1)

Category: TỰ HÀO ĐẤT QUẢNG, Tag: Khác,Lối sống,QUẢNG NAM
10/19/2010 03:57 pm
Từ Ðạo QUẢNG NAM
đến Tỉnh QUẢNG NAM
(1301  -  1831)

Trần Thanh Việt  ( Japan )

    


Năm 1306, thể theo lời ước gả Công Chúa Huyền Trân của Thái Thượng Hoàng Trần Nhân Tông ( năm 1301 ) trong dịp viếng thăm thân hữu Việt Nam  -  Chiêm Thành, vua Chiêm Thành, Chế Mân dâng đất hai Châu Ô, Châu Rí làm sính lễ để xin cưới Công Chúa Huyền Trân.
Năm 1307, sau nghi lễ tiễn Công Chúa Huyền Trân về Chiêm quốc, vua Trần Anh Tông tiếp thu 2 Châu Ô và Châu Rí, di dân khẩn hoang, lập ấp và đổi tên là Thuận Châu (Bắc Hải Vân Quan) và Hóa Châu (Nam Hải Vân Quan). Dân Chiêm Thành bỏ đất lui về phía Nam .

Năm 1402, sau khi chiếm ngôi nhà Trần, Hồ Quý Ly chia Hoá Châu, gồm đất Chiêm Ðộng, Cổ Lủy, lập thành 4 Châu là Thăng Châu (Thăng Bình và phía Bắc), Hóa Châu, Tư Châu và Nghĩa Châu (Quảng Ngãi và phía Nam), di dân canh tác và đặt quan An phủ sứ cai trị. Dân Chiêm Thành lại bỏ đất lui về phía Nam .
 Năm 1470, Hồng Ðức nguyên niên, vua Lê Thánh Tông, sau trận đại thắng, bắt được vua Chiêm Thành là Trà Toàn, triệt đễ khai thác sự chia rẽ của Hoàng Tộc Chiêm Thành, chia Chiêm Thành ra làm 3 nước nhỏ, phong 3 vua: Chiêm Thành, Hóa Anh và Nam Phan, chủ đích làn suy yếu đối phương. Lấy lại Hóa Châu, gồm đất Chiêm Ðộng, Ðồ Bàn, Ðại Chiêm và Cổ Lủy lập thành Ðạo QUẢNG NAM (địa danh QUẢNG NAM bắt đầu xuất hiện trên lịch sử VN từ đây).
Ðạo QUẢNG NAM gồm có 3 Phủ và 8 Huyện (tiền thân của Nam , Ngãi, Bình và Phú sau này)
 Năm 1570, Chúa Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Ðạo Quảng Nam , truyền nối con cháu (Nguyễn Phúc Tần, Nguyễn Phúc Chu ... ) lấn dần vào Nam , xâm chiếm trọn vẹn đất Chiêm Thành, lập thành Phủ Diên Khánh (Khánh Hòa), Phủ Bình Thuận, Huyện Yên Phúc và Huyện Hòa Ða (Bình Thuận)
Năm 1744, Chúa Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát, sau khi chiếm được Hà Tiên Rạch Giá, chia nước ra làm 12 DINH: Chính Dinh (Thừa Thiên), Cựu Dinh (A¨i Tử), Quảng Bình Dinh, Vũ Xá Dinh, Bố Chính Dinh, Quảng Nam Dinh (Quảng Ngãi phủ và Quy Nhơn phủ), Phú Yên Dinh, Bình Khang Dinh, Bình Thuận Dinh (đất Chiêm Thành), Trấn Biên Dinh, Phiên Trấn Dinh, Long Hồ Dinh (đất Chân Lạp). Ðồng thời, lấy Hội An làm cửa biển duy nhất buôn bán với nước ngoài, nên người ngoại quốc thường gọi là Quảng Nam Quốc.
 Năm 1880, Vua Gia Long, sau khi thống nhất được đất nước, chia nước ra làm 23 Trấn: Bắc Thành có 11 Trấn, Gia Ðịnh thành có 5 Trấn, Miền Trung có 7 Trấn, trong đó có Quảng Ngãi Trấn, Bình Ðịnh Trấn, Phú Yên Trấn và 4 Doanh, thuộc đất Kinh kỳ:
             - Trực Lệ Doanh (Thừa Thiên)
            - Quảng Trị Doanh
            - Quảng Bình Doanh và
            - Quảng Nam Doanh
 Như thế, Ðạo Quảng Nam hay Quảng Nam dinh bắt đầu từ đây chính thức chia làm 3 Trấn :
             - Quảng Ngãi Trấn
            - Bình Ðịnh Trấn
            - Phú Yên Trấn và
1 Doanh  là Quảng Nam Doanh
 Năm 1831, Vua Minh Mạng đổi Trấn và Doanh thành Tỉnh và đặt chức Tổng Ðốc, Tuần phủ, Bố Chánh Sứ, A¨n Sát sứ và Lãnh Binh trông coi việc cai trị.
Và địa danh TỈNH QUẢNG NAM bắt đầu có trên lịch sử Việt Nam từ đây.
 TỈNH QUẢNG NAM
1.         Ðịa lý Chính trị
Về phương diện hành chánh, dưới triều Minh Mạng, Quảng Nam được chia làm 8 Phủ, Huyện. 4 Phủ thuộc miền duyên hải, từ Bắc vào Nam là Ðiện Bàn (gồm cả thị xã Hội An), Duy Xuyên, Thăng Bình và Tam Kỳ. 4 Huyện thuộc miền cao, tạm gọi là Sơn cước là : Hòa Vang (gồm cả thị xã Ðà Nẵng), Ðại Lộc, Quế Sơn và Tiên Phước.
Năm 1888, Thành Thái Nguyên Niên, Triều đình Huế ký nhượng Ðà Nẵng cho Pháp làm nhượng địạ
Năm 1954, sau Hiệp định Genève, Ðà Nẵng lại quay về đất Mẹ Việt Nam .
Năm 1962 Chính phủ VNCH Ngô Ðình Diệm ( Ðệ I Cộng Hòa) chia tỉnh Quảng Nam ra thành thị xã Ðà Nẵng và 2 tỉnh : Quảng Nam (phía Băc) gồm các quận Hòa Vang, Ðiện Bàn, Duy Xuyên, Ðõi Lộc, Quế Sơn, Hiếu Ðức, Thường Ðức, Ðức Dục va Hiếu Nhơn (gồm thị xã Hội An) và Quảng Tín (phía Nam) gồm các Quận Thăng Bình, Tiên Phước, Hậu Ðức, Hiệp Ðức, Lý Tín và Tam Kỳ (gồm cả thị xã Tam Kỳ)
Năm 1975, Chính phủ CHXHCNVN, sau khi hòa bình thống nhất đất nước, lại sáp nhập 2 tỉnh Quảng Nam, Quảng Tín và Thành Phố Ðà Nẵng thành tỉnh Quảng Nam  -   Ðà Nẵng, gồm có 12 huyện là Hòa Vang, Ðiên Bàn, Duy Xuyên, Thăng Bình, Tam Kỳ, Ðại Lộc, Quế Sơn, Tiên Phước, Hiên Giằng, Phước Sơn, Trà My và Thành Phố Ðà Nẵng.

 Năm 1996 Chính phủ VN tách thành phố Ðà Nẵng ra thành một đơn vị hành chánh độc lập. Vùng còn lại thành tỉnh Quảng Nam, gồm có hai thị xã Tam Kỳ và Hội An, 6 huyện vùng đồng bằng là Ðiên Bàn, Duy Xuyên, Thăng Bình, Núi Thành, Ðại Lộc, Quế Sơn, 6 huyện vùng sơn cước là Trà My, Tiên Phước, Hiệp Ðức, Hiên,  Giằng, Phước Sơn. Tòa hành chính (Sy Ban Nhân Dân Tỉnh) được đặt tại thị xã Tam Kỳ.
2.         Ðịa lý thiên nhiên
Tỉnh Quảng Nam nằm giữa vĩ tuyến 14 độ 54 phút và 15 độ 57 phút, kinh tuyến 107 độ 42 phút và 108 độ 44 phút. Phía Bắc, giáp tỉnh Thừa Thiên -  Huế và thị xã Ðà Nẵng, phía Nam, giáp tỉnh Quảng Ngãi tại núi Trà My và Phủ Bình Sơn phía Ðông, giáp biển Ðông Hải, phía Tây, giáp dãy Trưng Sơn. Tỉnh Quảng Nam cách Hà Nội 860km và Sài Gòn (T/P Hồ Chí Minh) 865km. Về phương diện địa lý, có thể nói tỉnh Quảng Nam là trung tâm của đất nước Việt nam.
 Diện tích của tỉnh Quảng Nam là 10,708.6 km vuông. Dân số mới nhất hiện nay là 1,366,177 người . Mật độ dân số là 127.6 người / km2
Tỉnh Quảng Nam thuộc vùng khí hậu nhiệt đới, chịu ảnh hưởng trực tiếp của gió mùa.
Từ tháng 5 đến tháng 10, gió Tây Nam Ðông Bắc (gió Nồm) mang hơi nước từ vịnh Thái Lan vào, nhưng bị dãy Trường Sơn ngăn lại, nên không mưa (chỉ mưa ở miền Nam, vùng Ðồng bằng sông Cửu Long) và ngược lại, mang hơi nóng của vùng núi Vôi Ðồng Chum của Lào qua, nên rất oi bức (Gió Lào).
Từ tháng 11 đến tháng 4; gió Ðông Bắc Tây Nam (Gió Bấc) mang gió buốt từ phương Bắc, cộng thêm hơi nước biển Nam Hải xuống, bị dãy Trưng Sơn ngăn lại, nên mưa nhiều, giá lạnh và lụt lội liên miên, gây thiệt hại cho mùa màng. Nhưng đồng thời, cũng đem phù sa tái bồi, làm phì nhiêu thêm cho miền đồng bằng không ít
Một vài con số thủy văn của tỉnh Quảng Nam :
            Nhiệt độ trung bình trong năm : 25 độ C
            Nhiệt độ mùa đông : 20  -  24 độ C
            Nhiệt độ mùa hè : 25  -  30 độ C
            Ẩm độ trung bình : 84%
            Vũ lượng (lượng mưa) trung bình trong năm : 3.738 mm
            Giờ có ánh sáng mặt trời : 1.944 giờ / năm
Dãy Trường Sơn, chạy dài suốt từ Bắc vào Nam, đoạn thuộc tỉnh Quảng Nam, núi khá cao, sườn phía đông dựng đứng, vươn lên nhiều nhánh núi dọc, tạo thành nhiều thung lũng lớn nhỏ phì nhiêu và hiểm yếu . Nơi đây những phong trào Nhân dân nổi dậy đã chọn làm căn cứ chống Pháp.
Dọc theo những thung lũng ấy là các nguồn sông (Nguồn sông Con, sông Cái, sông Dak-mi, sông Bung, sông Tranh ...) chảy hợp thành các sông lớn nhỏ ( sông Cẩm, sông Vu Gia, sông Thu Bồn, sông Tam Kỳ, sông Trường Giang ..) nước chảy xiếc, nhiều gềnh thác, hay thay đổi giòng, không thuận tiện giao thông thủy lộ.
Ðường giao thông Quảng Nam chưa được phát triển đúng mức cần thiết, ngoài đường xe hỏa Xuyên Việt và Quốc lộ số 1 chạy suốt từ Bắc và Nam, dọc theo duyên hải, có mấy nhánh Tỉnh lộ, huyện lộ chạy ngang dẫn vào các Quận, Huyện miền núị

Giữa cửa Ðà Nẵng và cửa Ðại Chiêm (Hội An) có một cụm núi gọi là Ngũ Hành Sơn (Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ ) hay núi Non Nước (Sơn, thủy hữu tình), có Chùa ( Chùa Tam Thai, Chùa Linh Ưng, Chùa Từ Tâm ...), có Ðộng (Ðộng Tàng Chơn, độnh Huyền Không, Ðộng Vân Phong ... ) có những điểm cao nhìn cảnh (Vọng Hải Ðài, Vọng Giang Ðài ...).
Ngoài biển khơi, cách Ðà Nẵng 390km về hướng Ðông, có một cụm hơn 200 đảo lớn nhỏ, nối đuôi nhau trải dài từ Bắc xuống Nam gần 800 km là Quần Ðảo Hoàng Sa (Paracles) và Trường Sa (Sprailys), một cứ điểm chiến lược kiểm soát giòng hải hành vùng biển Ðông Nam A¨, đồng thời là những túi dầu hỏa và khí đốt quan trọng ven thềm lục địa Việt Nam

3.         Ðịa Lý Nhân Văn Mật độ dân số Quảng Nam tương đối cao, so với các tỉnh lân cận như Thừa Thiên, Quảng Ngãi ... Dân chúng định cư tại các tỉnh đồng bằng, hầu hết là người Việt, gốc Bắc và Bắc Trung Việt như Thanh Hóa, Nghệ Tĩnh ....vì lý do chính trị hay kinh tế, theo chân Chúa Nguyễn, nối tiếp từ đi này qua đi khác, di dân vào khẩn hoang lập nghiệp. Ngoài ra còn có một số người Chàm (Việt gốc Chiêm Thành) còn sót lại, ở rải rác chung quanh vùng Tháp Cũ, Thành Xưa (Phong Lệ, Trà Kiệu, Mỹ Sơn ...), một số người Minh Hương (Việt gốc Hoa) và Ấn Kiều, Pháp Kiều, Nhật Kiều ở tập trung vào các thị xã Ðà Nẵng, Hội An, Tam Kỳ ....
Ở miền thượng du, sát chân núi, dọc theo dãy Trường Sơn, thì người thiểu số, thuộc giống người Bana, người Stieng sinh sống theo lối du canh, du cư, săn bắn, đốt rừng làm rẫỵ
 Con người Quảng Nam  -  Quá khứ, Hiện tại và Tương lai
 Tài nguyên phong phú, vị trí chiến lược quan trọng là hai yếu tố để Quảng Nam trở thành vùng đất bị tranh chấp và người dân Quảng Nam phải gánh chịu nhiều hậu quả của những diễn biến lịch sử của đất nước để trưởng thành.
  Phần lớn dân cư Quảng Nam là người Việt có nguồn gốc từ miền Bắc và Bắc Trung Việt. Ðó là những con người có ý chí và bản lãnh chấp nhận những khó khăn của cuộc sống phiêu lưu và khai phá. Ðó là những con người có tinh thần phóng khoáng, không chịu những áp bức bất công của thời kỳ Vua Lê Chúa Trịnh suy vi, xã hội miền Bắc hỗn loạn nên tìm cách chống lại để bảo vệ tự do và phẩm giá nên bị ghép vào tội nghịch dân và bị lưu đàỵ
  Ðó cũng là những con  người nhận trách nhiệm lịch sử, đội quân tiên phong của Chúa Nguyễn vào Nam trấn thủ và mở mang bờ cõị
  Có thể nói cộng đồng những người khai phá vùng đất mới Quảng Nam là những con người bản lãnh và khát vọng, giàu tinh thần đấu tranh, được tôi luyện trong gian khổ và trưởng thành trong chiến đấu khắc phục những khó khăn từ thiên nhiên và do lịch sử đem laị.

Những con người Việt Nam tiên phong đó lại tiếp xúc và hội nhập với nền văn hóa Chàm, trong dòng văn hóa Ấn Ðộ Mã Lai và Hải đảo Thái Bình Dương tại cựu đô Trà Kiệu và Thánh Ðịa Mỹ Sơn của Chiêm Thành. Ðó là một nền văn hóa đa dạng và rực rỡ.
  Ðầu thế kỷ 17, Quảng Nam lại tiếp nhận và định cư những dòng người Trung Hoa không phục Thanh Triều. Cộng đồng Minh Hương là những người có trình độ văn minh cao, có kiến thức và kinh nghiệm về thương mại, kỹ thuật giỏi, tay nghề cao, hiểu biết nghệ thuật, âm nhạc thơ ca, hội họa của nền văn hóa phong phú Trung Hoa.
Những yếu tố đó tạo nên một nét đặc thù riêng biệt cho vùng văn hóa Quảng Nam trong nền văn hóa chung của dân tộc Việt. Những yếu tố văn hóa cụ thể và rực rỡ đó trong hàng thế kỷ đã hun đúc nên con người Quảng Nam có ý chí, bản lãnh kiên cường, tính tình phóng khoáng, ham chuộng tự do, kiên nhẫn, chịu khó, ham học hỏi, cầu tiến, khả năng tiếp nhận và phát huy cái mới.
 Trong thời cận đại, lịch sử Việt Nam bước vào thời kỳ bi tráng nhất. đất Quảng Nam trở thành chiến trường chính trong hai cuộc chiến liên tiếp nhau kéo dài gần 30 năm. Người dân Quảng Nam phải chịu đựng bao nhiêu nghiệt ngã của hoành cảnh. Nhưng cũng từ đó người dân Quảng Nam trưởng thành về chính trị.
 Người ta thường nói Quảng Nam là đất Ðịa Linh Nhân Kiệt, là quê hương của Cách mạng. Ðiều này không có gì thần bí, đó là một điều hiển nhiên khi con người ở đó được sinh trưởng trong một môi trừơng đa dạng và phong phú về mọi mặt và được tôi luyện trong một tiến trình đấu tranh gian khổ. Ðó cũng là một điều hiển nhiên của một vùng lãnh thổ địa đầu, tiếp cận và tiếp nhận những nguồn văn hóa khác nhau của thế giới.
Do đó, chỉ mới qua vài thế kỷ trong cộng đồng dân tộc, từ đầu Triều Nguyễn, Quảng Nam đã hình thành một trung tâm văn học thứ hai của đất nước ngoài trung tâm văn học cổ kính của cựu đô Hà Nội.
 Quảng Nam đã sản sinh ra nhiều danh nhân khoa bảng. Tiêu biểu là Khoa thi năm Mậu Tuất (1898), toàn quốc có 18 vị Tân Khoa, thì Quảng Nam có 5 vị, 3 Tiến Sĩ và 2 Phó Bảng. Ðó là một điều hy hữu trong lịch sử thi cử của nước nhà. Kể từ các triều Lý , Trần, Lê, Nguyễn có tất cả 187 khoa thi Tiên Sĩ với 2971 người đậu Tiến Sĩ nhưng chưa có khoa nào 5 người đồng hương cùng đậu . Vua Thành Thái và triều Nguyễn đã ban danh hiệu   Ngũ Phụng Tề Phi  để khen tặng. Năm vị đó là các ông Phạm Liệu, Phan Quang, Phạm Tuấn, Ngô Lý và Dương Hển Tiến.
 Ngoài ra khoa Tân Sửu (1901) Quảng Nam có 4 vị đỗ đồng khoa Phó Bảng là các ông Nguyễn Ðình Hiến, Nguyễn Mậu Hoán, Võ Sỹ và Phan Chu Trinh. Bốn vị này được mệnh danh là Tứ Kiệt.
                         
Những danh hiệu Ngũ Phụng Tứ Phi hay Tứ Kiệt nói lên tài học và sự vinh hiển đậu đạt của các danh sĩ Quảng Nam, con cháu người Quảng Nam nói chung và Tộc Trần nói riêng lấy đó làm vinh dự và noi gương.
 Tinh tuý của học thuật Quảng Nam là cái học thấu suốt, cách vật trí tri, học để hiểu biết thêm ý nghĩa và mục đích của học vấn, học đi đôi với hành, học để phát huy đạo đức. Học hành giỏi, thi đỗ làm quan, là con đường lập thân của người đàn ông Việt Nam thời trước. Nhưng làm quan để làm gì, là sự khác nhau về lý tưởng của mỗi người. Quan trường là phương tiện tốt để những người yêu nước thương dân đem khả năng của mình ra phục vụ.
Ða số những danh sĩ  Quảng Nam là những người yêu nước thương dân. Ra làm quan là những người thanh liêm nổi tiếng. Gặp thời loạn ly, đất nước bị ngoại xâm, họ tích cực chống giặc bảo vệ tổ quốc, từ quan, tham gia vào các phong trào cách mạng giải phóng dân tộc. Ðiển hình cho giới sĩ phu này có các ông:
-           Phạm Phú Thứ, người làng Ðông Bàn, phủ Ðiện Bàn
-           Hoàng Diệu, người làng Xuân Ðài (Ðiện Bàn)
-           Trần Văn Dư, người làng An Mỹ Tây, huyện Tam Kỳ
-           Nguyễn Duy Hiệu, người làng Thanh Hà, Ðiện Bàn
-           Nguyễn Thành
-           Phan Chu Trinh, người làng Tây Lộc, huyện Tiên Phước
-           Trần Qúy Cáp, người làng Bát Nhị, Ðiện Bàn
-           Huỳnh Thúc Kháng, người làng Thanh Bình, huyện Tiên Phước
-           Phan Thúc Duyên, người làng Phong Thử, Ðiện Bàn
-           Thái Phiên, người xã Hòa Phát, Hòa Vang
-           Trần Cao Vân, người làng Tư Phú, Ðiện Bàn
-           Lê Ðình Dương, người làng Ðông Mỹ, phủ Ðiện Bàn
-                     Phan Thành Tài, người phủ Ðiện Bàn
-                      
Trong quá trình lịch sử đấu tranh của dân tộc Việt Nam từ các phong trào Cần Vương, Ðông Du, Duy Tân và những phong trào kháng chiến về sau, các danh sĩ Quảng Nam đã đóng góp cả bản thân và đi sống của mình cho sự nghiệp chung của dân tộc.
Những hoạt động cách mạng của những nhân sĩ  Quảng Nam tuy không đem lại sự thành công trực tiếp nhưng đã đóng góp tích cực vào việc duy trì một khí thế đấu tranh liên tục của dân tộc.
Vì sợ hãi tinh thần đấu tranh cách mạng của nhân dân Quảng Nam và các tỉnh lân cận miền nam đèo Hải Vân như Quảng Ngãi, Bình Ðịnh, Phú Yên, chính quyền thực dân Pháp tiếp tục duy trì chính sách liệm biệt đối xử đã có sẵn từ thời nhà Nguyễn. Họ hạn chế tối đa việc học đối với nhữnh tỉnh này (việc học vấn đã hạn chế trong cả nước), ngay cả thành phố Ðà Nẵng (Touranne) là thuộc địa của Pháp cũng không có trường Trung Học. Do đó chỉ có rất it người dân Quảng Nam có đủ điều kiện để học cấp cao trong thời kỳ tân học.
Hậu quả là sau khi thu hồi độc lập ở miền Nam Việt Nam, có hơn hai thế hệ của người dân Quảng Nam không đủ người có trình độ học vấn cao để tham gia hoạt động chính quyền, kinh tế, chính trị và thương mại của đất nước một cách đầy đủ. Thêm vào đó, nạn bè phái trong chính quyền, quân đội (và bộ đội sau này) lại đẩy hầu hết những người Quảng Nam vốn trực tính, khẳng khái, ra khỏi những chức vụ then chốt của chính quyền. Trong khi đó đại đa số dân chúng Quảng Nam cũng như các tỉnh Quảng Ngãi, Bình Ðịnh, Phú Yên phải sống trong tình trạng nông nghiệp lạc hậu, thương mại thô sơ và vùng đất này vẫn là vùng đất bị khai thác nhiều hơn là xây dựng đúng như tiềm năng sẵn có.
             
Tuy nhiên như chúng ta đã thấy, lợi lộc đã không cuốn được kẻ sĩ Quảng Nam đi ra ngoài con đường đi chung của dân tộc. Cường quyền, bạo lực không khuất phục, ngăn cản được người Quảng Nam làm cách mạng, thì miếng cơm manh áo hằng ngày cũng không câu thúc được tâm hồn người dân xứ Quảng.
Sau 1975, với vị trí đặc biệt nằm trên bờ biển, với nhiều cửa biển và thuận đường đi đến các trung tâm tỵ nạn, một số lượng đông đảo người Quảng Nam đã ra đị  Ðây là một đau thương chung của dân tộc, nỗi đau của mọi người, mọi gia đình. Nhưng đồng thời cũng là một cơ hội cho con em, thế hệ tương lai có dịp học hỏi và tiếp thu những tinh túy của thế giới văn minh bên ngoài.
Với truyền thống học giỏi, tinh thần yêu nước, trọng tự do và phẩm giá con người  -  Ðội ngũ con em thế hệ tương lai của xứ Quảng sẽ là đội ngũ trí thức trẻ sẽ cùng với đội ngũ trẻ tương lai của cả nước xây dựng lại quê hương và đất nước về mọi mặt để xứng đáng với vị trí và tiềm năng của xứ Quảng.
 
    
                                              Trần Thanh Việt